Việt Nam cần sớm hoàn thiện kinh tế thị trường

Thứ Năm, 25.04.2019, 16:03

Phán quyết mới của WTO hôm 18/04 có thể sẽ khiến Trung Quốc gặp nhiều bất lợi trong tranh chấp thương mại với Mỹ và EU; trong khi Việt Nam, mặc dù chưa phải là đối tượng bị nhắm tới, song chúng ta cần thiết phải rút kinh nghiệm để tránh đi vào vết xe tương tự.

WTO vừa đưa ra phán quyết cực kỳ bất lợi cho Trung Quốc.

WTO kết luận, Bắc Kinh đã không tự hội đủ điều kiện để trở thành “nền kinh tế thị trường” vào năm 2016 như khẳng định của nước này sau khi được chính thức kết nạp vào định chế thương mại lớn nhất hành tinh (năm 2001). Đây thực sự là một đòn giáng nặng vào vị thế đang lên của đất nước tỷ dân, và mang ý nghĩa quan trọng đối với Mỹ và EU, khi trở thành cơ sở cho phép những nước này tăng cường thêm phạm vi áp thuế lên các sản phẩm – được cho là đang bán với mức giá quá rẻ (hay phá giá) – xuất xứ Trung Quốc, hoặc từ các quốc gia nơi giá cả trong nước bị coi là biến dạng đáng kể dưới sự can thiệp của nhà nước, trong từng tranh chấp cụ thể.

Theo định nghĩa của George Hoffman (2004) trong cuốn Comparing Economic Systems in the Twenty-First Century (so sánh các hệ thống kinh tế trong thế kỷ 21), kinh tế thị trường là hệ thống mà trong đó, các quyết định liên quan đến đầu tư, sản xuất và phân phối sẽ được dẫn dắt bởi những dấu hiệu về giá do quy luật cung – cầu quyết định.

Luật của Hoa Kỳ cũng quy định, nước này sẽ xem xét công nhận một quốc gia có nền kinh tế thị trường hay không dựa trên 6 tiêu chí: 1) Khả năng chuyển đổi của đồng nội tệ sang các đồng tiền khác; 2) Mức độ tự do thỏa thuận tiền lương giữa nhà quản lý và người lao động ở quốc gia đó; 3) Mức độ mà hoạt động liên doanh hoặc đầu tư của các doanh nghiệp nước ngoài được cho phép trên lãnh thổ nước sở tại; 4) Mức độ sở hữu hoặc kiểm soát của Chính phủ đối với tư liệu sản xuất; 5) Mức độ kiểm soát của chính phủ đối với việc phân bổ các nguồn lực và các quyết định về giá cả, sản lượng của các doanh nghiệp; 6) Các yếu tố khác mà cơ quan tiến hành điều tra thấy cần thiết;

Trong khi đó, những nền kinh tế bị Mỹ xếp vào loại phi thị trường (non-market) thường sẽ là “quốc gia không vận hành các nguyên tắc cơ bản của thị trường về cơ cấu chi phí và giá cả, do đó việc mua bán không phản ánh đúng giá trị thật của hàng hóa.” Xét theo những khía cạnh trên, Trung Quốc mặc dù đã có GDP lớn thứ hai thế giới và tạo dựng được nhiều doanh nghiệp có doanh thu cả trăm tỷ USD, song vẫn bị xem là thất bại với cam kết chuyển đổi sang kinh tế thị trường, chủ yếu bởi sự can dự và chi phối quá lớn của nhà nước; hay ngay đối với khu vực tư nhân vốn được xem là năng động, những cáo buộc gần đây của phương Tây đối với Huawei, ZTE và nhiều công ty Trung Quốc khác cũng cho thấy, nền kinh tế nước này còn xa mới đạt đủ trình độ minh bạch.

Sự khác biệt lớn nhất giữa nền kinh tế thị trường với kinh tế chỉ huy nằm ở mức độ can dự của nhà nước.

Trong thỏa thuận gia nhập WTO (2007), đến hết năm 2018, tổ chức này sẽ xem xét liệu Việt Nam có hội đủ điều kiện của một nền kinh tế thị trường thực thụ, hay vẫn sẽ bị xếp vào loại phi thị trường. Vì mục tiêu mở rộng thương mại và tăng trưởng kinh tế, việc đạt được quy chế này (bao gồm sự công nhận của tất cả các thành viên, đặc biệt là Hoa Kỳ và EU) luôn là một ưu tiên hàng đầu của Việt Nam, nhằm được thụ hưởng cách tính toán biên độ phá giá, tỷ lệ trợ cấp, … theo chuẩn của WTO, và để tạo thuận lợi trong giải quyết các tranh chấp thương mại (những nước chưa có quy chế thị trường theo quy định của WTO thường dễ bị áp thuế chống bán phá giá đối với mặt hàng xuất khẩu), nhất là trong bối cảnh thế giới đầy biến động do chiến tranh thương mại leo thang và sự trỗi dậy của chủ nghĩa bảo hộ. Chẳng hạn, trong thời gian tới, chính quyền Mỹ của tổng thống Donald Trump có rất ít khả năng sẽ chấm dứt đưa ra những kết luận mang tính phân biệt đối xử, hoặc ngừng thực hiện các biện pháp như áp thuế chống bán phá giá …

Suốt hơn một thập kỷ qua, Việt Nam đã thường xuyên vận động các thành viên WTO công nhận nền kinh tế thị trường của mình – hiện đã có tổng cộng 69 quốc gia và vùng lãnh thổ, nhưng đáng tiếc, hai đối tác lớn và quan trọng bậc nhất là Mỹ và EU thì mãi vẫn chưa chịu thông qua, với lý do: Việt Nam mới chỉ thỏa mãn 1 trong số 5 tiêu chí của kinh tế thị trường, ở đây là mức độ ảnh hưởng của chính phủ trong việc phân bổ nguồn lực và quyết định của doanh nghiệp – còn lại 4 tiêu chí liên quan đến (1) Không có sự can thiệp của nhà nước làm biến dạng hoạt động hàng ngày của doanh nghiệp; 2) Quản trị doanh nghiệp, kế toán và kiểm toán; 3) Sự tồn tại và thực thi một chế độ pháp lý, tôn trọng các quyền sở hữu trí tuệ, phá sản và cạnh tranh cũng như các hệ thống tư pháp; 3) Minh bạch trong lĩnh vực tài chính … thì vẫn chưa đạt.

Trên thực tế, nền kinh tế Việt Nam đang có độ mở (tính theo quy mô ngoại thương/GDP) rất lớn, thuộc hàng nhất thế giới và chỉ xếp sau Singapore ở khu vực Đông Nam Á (năm 2018, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam đã lần đầu vượt ngưỡng 400 tỷ USD, bằng 200% GDP). Ngoài ra, chúng ta cũng rất tích cực hội nhập khi tham gia sâu vào các sân chơi, diễn đàn lớn toàn cầu, hoàn tất 12 thỏa thuận FTA và còn đang thúc đẩy đàm phán các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như CPTPP (đã được ký, đang đợi quốc hội của cả 11 thành viên thông qua) và EVFTA (dự kiến được Nghị viện EU thông qua trong hè 2019).

Trong số các đối tác, Mỹ và EU chính là những thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam, mang lại thặng dư cao, giúp cán cân thanh toán của Việt Nam trở nên lành mạnh hơn nhiều so với mức thậm hụt trung bình hơn 30 tỷ USD mỗi năm trong buôn bán với Trung Quốc. Vì thế, nếu không được Mỹ và EU công nhận quy chế kinh tế thị trường và phải vướng vào các tranh chấp thương mại với họ, nguy cơ chịu tổn thương nặng của chúng ta là vô cùng hiện hữu. Trong quá khứ, Việt Nam đã từng rất vất vả để vượt qua những vụ kiện chống bán phá giá, trợ cấp xuất khẩu liên quan đến các mặt hàng như tôm, cá tra, … hay mới đây nhất là với thép, từ Mỹ và EU, và không gì có thể đảm bảo, rằng mọi chuyện sẽ lại suôn sẻ một khi CPTPP và EVFTA với các tiêu chuẩn hết sức khắt khe đi vào hiệu lực.

Các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam từng rất nhiều lần bị kiện chống bán phá giá và trợ cấp xuất khẩu.

Rất nhiều chuyên gia đã bày tỏ lo ngại về thời điểm WTO xem xét quy chế kinh tế thị trường của Việt Nam đang rất gần kề, trong khi những trở ngại tới từ Mỹ và EU thì vẫn chưa thể vượt qua. Như để được Mỹ công nhận, chúng ta cần thiết phải chứng minh được tính cạnh tranh hoàn toàn bình đẳng, không hề ưu đãi hay thiên vị bất cứ thành phần nào trong nền kinh tế. Hay trong chuyến thăm và làm việc tại Việt Nam năm 2011, bà Corien Wortmann Kool – Phó chủ tịch Ủy ban Thương mại Quốc tế, Nghị viện EU – từng phát biểu, việc EU công nhận Việt Nam là quốc gia có nền kinh tế thị trường, sớm hay muộn đều tùy thuộc vào những cải cách của Việt Nam.

Thế nhưng, cách hiểu và cách làm của chúng ta, ở một chừng mực nào đó, dường như vẫn đang đi ngược lại xu hướng của các quốc gia thị trường đích thực, thể hiện qua sự chậm trễ trong lộ trình thoái vốn, cổ phần hóa hết khối doanh nghiệp nhà nước (đa phần làm ăn thua lỗ, bết bát), thậm chí còn gom tất cả vào cùng một mối khi cho thành lập siêu Ủy ban Quản lý vốn Nhà nước …

Không thể phủ nhận sự quyết liệt và những nỗ lực cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh của Chính phủ trong thời gian qua, tuy nhiên hiệu quả hãy còn rất thấp, một phần cũng bởi tính chưa rõ ràng (hay mập mờ) trong khâu hoạch định chính sách lẫn hệ thống pháp lý lỏng lẻo … Vì thế, thay vì tìm cách vận động các đối tác công nhận mình là nền kinh tế thị trường, có lẽ Việt Nam nên nỗ lực hơn trong việc thực hiện cải cách nền kinh tế theo hướng tư nhân hóa, tự do hóa, hoàn thiện thể chế, đảm bảo công bằng, bình đẳng và bám sát các nguyên tắc cốt lõi của cơ chế thị trường. Sau cùng, việc ký kết nhiều hiệp định thương mại tự do rõ ràng là một cơ hội lớn, nhưng để phát huy hiệu quả, chúng ta không thể không đẩy mạnh cải cách từ chính bên trong, tức thay đổi về chất, có vậy mới mong tháo gỡ chiếc vòng kim cô “nền kinh tế phi thị trường”.