Việt Nam cần sẵn sàng ứng phó kịch bản “chưa giàu đã già”

Thứ Sáu, 09.08.2019, 16:26

Nơi nào không có tầm nhìn, ở đó con người sẽ lụi tàn (Ngạn ngữ)

Thống kê mới nhất cho biết dân số Việt Nam vừa vượt ngưỡng 96 triệu người và đang ở vào giai đoạn cơ cấu vàng (khoảng 69% dân số thuộc độ tuổi lao động), tuy nhiên nguy cơ “giàu lượng, nghèo chất” lại cực kỳ hiện hữu.

Cơ cấu dân số vàng của Việt Nam sắp chấm dứt, trong khi nền kinh tế thì chưa thật sự phát triển, mức sống người dân còn thấp.

Cơ cấu dân số vàng là thuật ngữ dùng để chỉ tình trạng nhân khẩu học của một quốc gia, khi tỷ lệ người trong độ tuổi không phụ thuộc lớn hơn tỷ lệ người trong độ tuổi phụ thuộc – nhờ vậy mà nhu cầu phúc lợi và chăm sóc y tế cho người già có thể được duy trì ở mức tối thiểu, tạo thuận lợi cho việc huy động thêm nguồn lực cho đầu tư cơ sở hạ tầng, kích cầu tiêu thụ (nhờ lực lượng dân số trẻ). Đây là hiện tượng hầu như chỉ xảy ra một lần ở mỗi nước trên thế giới, và là cơ hội tốt để đưa nền kinh tế phát triển. Nhưng nếu không thể tranh thủ giai đoạn thuận lợi để gia nhập hàng ngũ giàu có trước khi dân số bắt đầu lão hóa, và chính quyền cũng không chủ động phương án đối phó với các cú sốc (kinh tế tăng trưởng chậm lại, và phải chi một phần lớn ngân sách cho y tế, phúc lợi cho người già), thì triển vọng của đất nước sẽ không mấy sáng sủa.

Nhìn sang các láng giềng Đông Á, có thể thấy Nhật Bản (sau Thế chiến II), bốn con hổ: Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore, Hongkong (thập niên 1970 – 1980), và Trung Quốc (sau thời mở cửa năm 1978) đã làm rất tốt trong giai đoạn dân số vàng để vươn lên trở thành những cường quốc kinh tế1. Ngược lại, một số nước như Thái Lan, đặc biệt là Philippines, đã không thể thành công như vậy như vậy và sa vào bẫy thu nhập trung bình (middle income trap)2. Gần đây, sau khi thực hiện một loạt cải cách sâu rộng, mặc dù không tăng trưởng phi mã, nhưng Malaysia và Indonesia lại đang phát triển tương đối ổn định, bền vững3.

Indonesia, dưới sự lãnh đạo của Tổng thống Joko Widodo đang phát triển khá ổn định và được đánh giá là nhiều triển vọng. Trong hình là ông Widodo đang dự lễ khai trương hệ thống tàu điện ngầm vừa hoàn thành tại thủ đô Jarkata.

Không tính giai đoạn leo thang chiến tranh Nam – Bắc (do rất khó thống kê và các số liệu cũng gây nhiều tranh cãi), theo ESCAP (Ủy ban Liên hiệp quốc về kinh tế và xã hội châu Á – Thái Bình Dương), thu nhập đầu người của miền Nam Việt Nam năm 1954 (sau khi vừa bị chia cắt bởi Hiệp định Geneva) là 117 USD, cao hơn Thái Lan và Indonesia (lần lượt là 108 USD và 88 USD). Nhưng hiện tại, GDP đầu người danh nghĩa của Việt Nam chỉ là 2.726 USD (số liệu ước tính của IMF cho năm 2019), thua kém khá nhiều so với Thái Lan (7.607) và Indonesia (4.120 USD), mặc dù hai nước này còn xa mới bằng được Hàn Quốc hay Đài Loan4.

Chiến tranh Việt Nam đã kết thúc hơn 40 năm, và quãng thời gian 30 năm sau Đổi Mới (1986) cũng là đủ dài để đưa đất nước chuyển mình thành một quốc gia tầm cỡ trên thế giới5. Không thể phủ nhận những thành tựu của chính sách Đổi Mới (thực chất là trở về với những giá trị cũ khi xóa bỏ bao cấp và chấp nhận kinh tế thị trường), giúp Việt Nam thoát nghèo (không còn bị nạn đói đe dọa), hội nhập sâu vào nền kinh tế toàn cầu và trở thành nước có thu nhập trung bình thấp (low middle income) kể từ 2008. Tuy nhiên, nếu so sánh với tiềm năng, kinh nghiệm của các quốc gia trong vùng Viễn Đông, và cả những tiếc nuối về thời cơ thuận lợi bị bỏ lỡ, phải thừa nhận một thực tế rằng: cả tốc độ lẫn trình độ phát triển của Việt Nam vừa không cao lại vừa kém hiệu quả, thể hiện qua sức cạnh tranh èo uột của các ngành công nghiệp then chốt, mục tiêu hoàn thiện công nghiệp hóa năm 2020 thất bại, nền kinh tế ngày có xu hướng ngày càng dựa dẫm vào FDI và trao đổi mậu dịch với Trung Quốc (thâm hụt hàng năm lên đến 30 tỷ USD). Ngoài ra, hiện tượng chảy máu chất xám (nhân tài, giới tinh hoa, nhà giàu bỏ nước ra ngoại quốc sinh sống, làm việc) và xuất khẩu lao động (mỗi năm hàng trăm ngàn người) cũng góp phần làm xấu đi hình ảnh của nước Việt.

Xét trên khía cạnh quy mô dân số, Việt Nam có thể được xem là nước lớn (đứng thứ 15) trên thế giới, nhưng sức nặng kinh tế lại rất khiêm tốn và hầu như không có nhiều ảnh hưởng. Thậm chí trong ASEAN, GDP đầu người của Việt Nam còn đang xếp dưới Lào (năm 2019 ước đạt hơn 2.800 USD, tính toán của IMF) và có nguy cơ bị cả Campuchia lẫn Miễn Điện vượt mặt. Cùng nhìn lại chặng đường đã đi, thực sự chúng ta đã bỏ lỡ quá nhiều cơ hội, kể từ năm 1993 (thời kỳ phá bỏ cấm vận của phương Tây, tăng cường giao lưu hội nhập và bắt đầu đón dòng vốn đầu tư nước ngoài). Khi ấy, nếu chúng ta quyết tâm cải cách thể chế toàn diện (tôn trọng nguyên tắc của thị trường tự do, ưu tiên kinh tế tư nhân thay vì quá tập trung cho khu vực quốc doanh, chống tham nhũng triệt để, …) để củng cố nội lực và tranh thủ ngoại lực, thì với những ưu đãi về tài nguyên thiên nhiên, đường bờ biển đẹp, tiềm năng nông nghiệp trù phú, … Việt Nam đã hoàn toàn có thể duy trì được tốc độ phát triển ở mức xấp xỉ 2 con số trong suốt một giai đoạn dài. Nói vậy không phải để tăng trưởng bằng mọi giá, bởi cần chú trọng phát triển bền vững, bảo vệ môi trường, đảm bảo sự bình đẳng (về cơ hội) cho mọi tầng lớp dân cư, song triển vọng để có thể biến Việt Nam trở thành một cường quốc bậc trung (như Hàn Quốc) thực sự không hề viển vông. Nước Nhật trong giai đoạn 1955 – 1973, nhờ tầm nhìn của những lãnh đạo tài giỏi, tâm huyết với tiền đồ đất nước như cố thủ tướng Ikeda Hayato (1899 – 1965)6 đã làm được điều đó, khiến cả thế giới phải ngả mũ kính phục.

Khi cơ cấu dân số vàng chấm dứt vào năm 1992, GDP đầu người của Nhật Bản là 30.000 USD (tính theo thời giá năm 2005), của Hàn Quốc (năm 2010) là 20.000 USD – tương tự với Đài Loan. Còn Việt Nam, kể cả từ nay cho đến năm 2030 (thời điểm kết thúc giai đoạn dân số vàng), cho dù có phát triển 7 – 8 % mỗi năm thì GDP đầu người của chúng ta cũng sẽ chỉ đạt quãng 5.000 – 6.000 USD (còn tùy thuộc vào biến động tỷ giá), rõ ràng là kém xa các nước trên ở cùng thời điểm.

Việt Nam nên tham khảo kinh nghiệm đối phó tình trạng già hóa của Nhật Bản

Đó quả là một điều đáng tiếc, nhưng những gì đã qua thì không thể lấy lại, cho nên các lãnh đạo của Việt Nam trong giai đoạn tới cần thiết phải có nhận thức sâu sắc về cạm bẫy “chưa giàu đã già” và ảnh hưởng của nó đến vị thế đất nước. Chúng ta hãy tham khảo và vận dụng kinh nghiệm ứng phó của nhiều nước đi trước như Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc … thông qua một số biện pháp, chẳng hạn nâng tuổi hưu, hạ tuổi trưởng thành, khuyến khích nhập cư (nhất là nguồn lao động chất lượng cao), khẩn trương chuyển đổi sang nền kinh tế dựa trên tri thức … Điều này chỉ có thể đạt được nếu chúng ta cải cách toàn diện thể chế, tăng cường đầu tư cho vốn con người (human capital), thông qua nâng cao chất lượng giáo dục, y tế và vun đắp các giá trị nhân văn, nhất là cho thế hệ trẻ. Thời gian không còn nhiều, người Việt Nam phải xem đây là mối nguy cực lớn, đe dọa vận mệnh quốc gia.

Chú thích:

1. Đây là những nền kinh tế tăng trưởng nhanh chưa từng có trong lịch sử (trung bình gần 10%/năm) và duy trì được tốc độ đó liên tục, suốt một thời gian dài.

2. Trước cuộc khủng hoảng tài chính 1997, kinh tế Thái Lan tăng trưởng rất nóng và từng được kỳ vọng sẽ trở thành con hổ thứ 5 của châu Á, tuy nhiên điều đó đã không bao giờ xảy ra; GDP đầu người của Philippines những năm 1960 còn cao gấp đôi Hàn Quốc, nhưng sang đến thập niên 1980 thì vị trí hoàn toàn đảo ngược.

3. Indonesia đã hoàn thành mục tiêu trở thành nền kinh tế [có GDP] 1000 tỷ USD từ cuối 2017; còn Malaysia thì được xếp hạng rất cao trong báo cáo đầu năm 2018 của Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) về mức độ sẵn sàng cho làn sóng Công nghiệp 4.0.

4. Trong số các quốc gia châu Á với xuất phát điểm thấp thời hậu chiến, không được thiên nhiên ưu đãi, ngoại trừ Nhật Bản, duy chỉ Hàn Quốc và Đài Loan (với quy mô dân số trên 20 triệu người) là thành công trong việc đưa GDP đầu người vượt ngưỡng giàu – theo tiêu chuẩn của OECD.

5. Nhật Bản chỉ mất 23 năm (1945 – 1968), để phục hồi từ đống đổ nát và vươn lên trở thành cường quốc kinh tế thứ hai thế giới (chỉ sau Mỹ); Hàn Quốc và Đài Loan cũng chỉ mất 25 năm (tức một thế hệ) để công nghiệp hóa thành công và gia nhập hàng ngũ các nền kinh tế hùng mạnh, định hướng tri thức.

6. Ngay từ khi còn làm Bộ trưởng Tài chính, ông Ikeda Hayato đã ấp ủ và đề xướng chiến lược bội tăng thu nhập quốc dân cho Nhật Bản (mục tiêu đưa GDP đầu người tăng gấp đôi sau mỗi 10 năm), nhưng thực tế đã thành công vượt cả kỳ vọng (chỉ mất 7 năm).