Người Việt thiếu gì để hạnh phúc?

Thứ Hai, 25.03.2019, 16:07

Theo Báo cáo The World Happiness Report 2019 (Hạnh phúc Thế giới) do Liên Hiệp Quốc vừa công bố, Việt Nam được xếp ở vị trí 94 trên 156 quốc gia và vùng lãnh thổ được khảo sát.

Việt Nam có phải là một quốc gia hạnh phúc?

Nhiều ý kiến không đồng tình cho rằng thứ hạng trên, trên thực tế chắc chắn phải cao hơn, bởi đối với phần đông người Việt Nam, hạnh phúc chính là những thứ bình dị, đơn giản nhất như “được gần người thân ngay trên quê hương mình, được làm những gì mình muốn” hay đó là “sáng đưa con đi học, chiều đón con về, tiền ít nhưng cả nhà vui vẻ, hài lòng” hoặc “sáng ăn bát phở, uống ly cà phê đi làm, chiều mua tờ vé số rồi uống vài chai bia với chiến hữu” … Và với quan niệm như vậy thì không cần thiết phải quan tâm đến các chỉ số quốc tế hay thế giới nghĩ gì về mình.

Một số người nước ngoài có nhiều trải nghiệm với Việt Nam cũng cảm thấy kết quả xếp hạng trên chưa thật sự phản ánh đúng cuộc sống ở tại xứ sở này – nơi nổi tiếng là thân thiện, dễ mến, và đặc biệt có mức sống dễ chịu hơn nhiều so với các láng giềng trong cùng khu vực châu Á. Chẳng thế mà số lượng người nước ngoài đổ tới sinh sống và làm việc tại Việt Nam đang không ngừng tăng lên trong khoảng 10 năm trở lại đây.

Tuy nhiên, nếu nhìn vào phương pháp xếp hạng của Báo cáo Hạnh phúc, dựa trên các tiêu chí rất thiết thực như GDP bình quân đầu người, hỗ trợ xã hội, tuổi thọ, mức độ tự do, sự hào phóng, tình trạng tham nhũng, … chúng ta không thể không công nhận đó là một nghiên cứu công phu và mặc dù kết quả còn gây nhiều tranh cãi, nhưng đó thực sự là một tham chiếu có giá trị giúp chúng ta nghiêm túc nhìn lại mình để ngày càng hoàn thiện.

Chưa bàn tới những vấn đề cao siêu như vị thế quốc gia, song hạnh phúc có lẽ phải bao hàm hoặc không thể tách rời khỏi sự thỏa mãn về vật chất, như phải đủ ăn đủ mặc, được hưởng hệ thống giáo dục, y tế, giao thông thuận lợi, con người thường xuyên không phải sợ hãi hay lo lắng. Dựa vào những tiêu chí căn bản này thì không thể nói người Triều Tiên (một quốc gia sở hữu vũ khí hạt nhân và đoàn kết dưới sự lãnh đạo của Đảng Lao động Triều Tiên nhưng có gần 10 triệu người thiếu ăn) là hạnh phúc … còn người Việt Nam, tuy may mắn hơn Triều Tiên rất nhiều song cũng cần phải nỗ lực để theo kịp cộng đồng thế giới văn minh.

Không phải ngẫu nhiên mà các vị trí thuộc nửa đầu trong bảng xếp hạng Hạnh phúc đều do những quốc gia và vùng lãnh thổ phát triển (theo tiêu chuẩn OECD) nắm giữ. Chẳng hạn, Phần Lan đứng nhất thế giới hai năm liền nhờ tỷ lệ tham nhũng cực thấp, môi trường trong lành, hệ thống an sinh xã hội, cảnh sát và ngân hàng tốt, đáng tin cậy; hay Đài Loan được xếp số 1 châu Á cũng vì đạt được sự tiến bộ đáng kể trong những tiêu chí kể trên. Xét về điều kiện tự nhiên (như vị trí địa lý, thiên nhiên ưu đãi) và tố chất con người, Việt Nam nhẽ ra phải sánh ngang với Hàn Quốc, Singapore … nhưng tại sao chúng ta lại lẹt đẹt ở nửa cuối bảng xếp hạng, thậm chí còn đứng dưới cả Trung Quốc (thứ 93). Chỉ khi lọt vào top 50, chúng ta mới nên tạm xem đó là một chút thành tựu, mà như vậy thì rõ ràng là cần phải nỗ lực rất nhiều.

Có rất nhiều nguyên nhân lý giải cho sự thua kém này, song cá nhân người viết tin rằng nút thắt lớn nhất nằm ở yếu tố văn hóa, tâm lý, khi người Việt chúng ta thường hay tự giới hạn tư duy và tầm nhìn của mình trong làng xóm, dẫn tới thói bảo thủ, cam chịu và rất ngại ngần, thậm chí còn cưỡng lại sự thay đổi … Như trong cuốn Người xưa cảnh tỉnh, nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn có đúc kết lại nhiều nhận định của các học giả Phan Kế Bính, Nguyễn Văn Huyên, rằng từ xa xưa, làng An Nam đã là một xã hội thống nhất về chính trị cũng như tôn giáo, cho nên một số đông dân làng chỉ có cái quan niệm với làng mà thôi. Cái xã hội nhỏ ấy có thể là một trở ngại lớn cho tiến bộ, bởi người dân thường chỉ biết có lũy tre xanh, đình làng của họ, ngoài ra tất cả đều là người dưng nước lã cả và không có gì liên hệ đến họ hết. Chính điều này đã ngăn cản công cuộc di dân, thông thương và hấp thu các giá trị tiến bộ.

Tư duy làng xã vẫn còn ăn sâu bám rễ rất mạnh ở Việt Nam

Những lời gan ruột trên, sau gần 100 năm và dù đất nước đã trải qua biết bao chinh chiến vận đổi sao dời, xem ra hãy còn rất đúng … nhưng điều đáng lo ngại hơn cả là nó còn đang tiến triển lên để trở thành một căn bệnh trầm kha trong xã hội, bao trùm cả lãnh đạo cho đến người dân. Để cải thiện tình hình người Việt Nam đang rất khát khao những sáng tạo mang tính đột phá từ khu vực dân sự nhằm giải quyết thách thức trên hầu hết tất cả các lĩnh vực. Muốn thế, có lẽ Nhà nước không thể mãi áp đặt một nền cai trị chuyên chế theo kiểu như hiện nay.