GDP điều chỉnh của Việt Nam tăng mạnh: Mừng hay lo?

Thứ Tư, 11.09.2019, 15:19

Mới đây, tại cuộc họp giao ban báo chí hôm 27/8/2019, Tổng cục Thống kê cho biết quy mô GDP trung bình được đánh giá lại của Việt Nam trong giai đoạn 2010 – 2017 đã tăng thêm 25,4%/năm so với các số liệu từng được công bố chính thức trước đó.

Cụ thể, GDP của Việt Nam năm 2017 được điều chỉnh tăng từ 220 tỷ USD lên 275 tỷ USD; trong khi dự báo GDP cho năm 2019 cũng vượt quá 300 tỷ USD, khiến thu nhập bình quân đầu người (GDP per capita) theo đó mà tăng lên mức 3.000 USD, thay vì con số 2.590 USD như tính toán của Ngân hàng Thế giới (WB). Như vậy, nếu cách tính mới là đúng, quy mô của nền kinh tế Việt Nam đã vượt qua cả Ai Cập, Phần Lan và Chile.

Cơ sở pháp lý của việc đánh giá lại GDP lần này là dựa trên Quyết định số 715/QĐ-TTg ngày 22/5/2015 của Thủ tướng Chính phủ. Ngày 16/8/2019, TS. Nguyễn Bích Lâm – Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê – phát biểu cho biết, việc đánh giá lại quy mô GDP là phù hợp với thông lệ quốc tế, và trong trường hợp của Việt Nam là cần bổ sung thêm thông tin từ cuộc Tổng Điều tra, chủ yếu là từ cơ quan thuế, bao gồm dữ liệu của khoảng 76.000 doanh nghiệp trước đây chưa được tính vào.

TP Hồ Chí Minh (Sài Gòn), trung tâm kinh tế năng động nhất của Việt Nam.

Kể từ khi trở thành một chỉ tiêu đo lường quan trọng, GDP đã không ngừng được các nhà kinh tế tìm cách hoàn thiện, từ tư tưởng của David Ricardo (1772-1823) xem đất đai là yếu tố đầu vào quyết định tăng trưởng; cho đến mô hình tăng trưởng “ngoại sinh” do Robert Solow (Nobel kinh tế 1987) phát triển, nhấn mạnh: việc gia tăng vốn đầu vào sẽ chỉ ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn, tới một thời điểm nào đó tăng trưởng sẽ chững lại và những nền kinh tế có tỷ lệ tiết kiệm cao thường sẽ đạt mức sản lượng cao hơn”; còn Paul M. Romer (Nobel kinh tế 2018) lại chứng minh nguồn gốc của tăng trưởng là “nội sinh”, và chính tăng trưởng sẽ sinh ra các tiến bộ kỹ thuật (chứ không phải ngược lại) … Ngoài ra còn có mô hình hai yếu tố Tân cổ điển, Lewis và Harry T. Oshima (sự tăng trưởng của hai khu vực nông nghiệp và công nghiệp sẽ quyết định tăng trưởng kinh tế, trong đó lao động là yếu tố chính, sự tăng năng suất do đầu tư và khoa học kỹ thuật sẽ tác động lên hai khu vực kinh tế); Harrod-Domar (nguồn gốc tăng trưởng kinh tế là do tăng lượng vốn sản xuất đầu vào); Kaldor (tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào phát triển kỹ thuật hoặc trình độ công nghệ); Sung Sang Park (nguồn gốc của tăng trưởng là do tăng cường vốn đầu tư quốc gia cho con người, tức vốn con người) … Tuy nhiên, cần phải lưu ý rằng các mô hình và học thuyết trên thường được nghiên cứu ở những quốc gia tư bản phát triển với nền kinh tế thị trường hoàn chỉnh. Trong điều kiện của Việt Nam, vốn là một nền kinh tế mới chuyển đổi từ bao cấp sang thị trường, việc vận dụng chúng chắc chắn sẽ không thể tránh khỏi việc gặp nhiều khó khăn và các khoảng trống, chưa kể tính chính xác và minh bạch của dữ liệu cũng là vấn đề được rất nhiều người lưu tâm.

GDP hay được giới lãnh đạo ở nhiều quốc gia ưa dùng như kim chỉ nam của nền kinh tế, nhưng nó thực sự còn bộc lộ rất nhiều khiếm khuyết và không thể phản ánh đầy đủ chất lượng cuộc sống lẫn mức độ hạnh phúc của con người. Động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, về cơ bản vẫn phải dựa trên bốn nhân tố là nguồn nhân lực (human), tài nguyên (resource), tư bản (capital) và công nghệ (technology); còn thể chế (institution) sẽ đóng vai trò trung tâm để kết hợp các nhân tố này lại, vì thế sự khác biệt thể chế – ở đây là bao trùm (inclusive) hay loại trừ (exclusive) – sẽ đưa đến thành quả khác nhau, như lý giải của Daron Acemoglu và James A. Robinson trong cuốn Vì sao các quốc gia thất bại? (Why nations fail?).

GDP thực sự đã không thể bao quát được các nguyên nhân như năng lực lãnh đạo yếu kém làm cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm môi trường; hiện tượng lãng phí nguồn nhân lực vì thiếu môi trường tự do thúc đẩy sáng tạo; chính sách cào bằng trong phân phối làm triệt tiêu đi các động lực; hay mức độ hấp thụ tư bản và công nghệ thấp do những nút thắt liên quan đến cơ sở hạ tầng, pháp lý và thiếu vắng các nguyên tắc thị trường định hướng. Bởi thế, những cánh rừng bị phá sẽ không khiến GDP bị giảm đi, trong khi chi phí trồng rừng và khắc phục hậu quả phá rừng sẽ làm tăng GDP; các cơ quan thống kê không hề có lỗi khi tính hoặc không tính đến những yếu tố đó, chỉ là do bản chất của GDP phải tuân theo cách tính như vậy mà thôi. Đó cũng chính cạm bẫy lớn nhất mà các nền kinh tế tăng trưởng nhanh như Trung Quốc, Ấn Độ hay Việt Nam đều đang mắc phải, mặc dù đã liên tục duy trì được tốc độ tăng GDP cao trong nhiều năm.

Thảm họa môi trường do Formosa gây ra không khiến cho GDP bị giảm đi, ngược lại còn tăng lên.

Trên thế giới, nhiều cuộc tranh luận nhằm đi tìm một chỉ số khác thay thế cho GDP cũng đang ngày càng nóng, trong đó có GNI (Tổng thu nhập quốc nội). Mặc dù cùng chia sẻ những yếu tố nền tảng với GDP, nhưng GNI được xem là phù hợp hơn với kỷ nguyên toàn cầu hóa, bởi nó tính đến các thu nhập được tạo ra bởi những công ty nước ngoài và công dân nước ngoài. Theo đó, tại một quốc gia nơi các công ty nước ngoài sở hữu phần lớn nền sản xuất và nhiều tài sản khác, GDP thường sẽ bị thổi phồng lên, trong khi GNI mới thực sự thể hiện phần thu nhập mà nước này giữ lại được … Cộng hòa Ireland chính là một ví dụ điển hình, khi GDP của nước này năm 2015 theo báo cáo đã tăng đến 26,3% – con số khiến nhiều người kinh ngạc, nguyên nhân là vì nhiều công ty đa quốc gia như Google đã “dịch chuyển” lợi nhuận của họ sang đây. Vì thế, một nghiên cứu khác do OECD thực hiện (năm 2016) đã kết luận, GDP không nên được xem là chỉ dẫn đáng tin cậy nhất về sự thịnh vượng của một quốc gia.

Trở lại câu chuyện Việt Nam, vì việc đánh giá lại GDP là chưa từng có tiền lệ, cho nên chúng ta phải cực kỳ thận trọng và cần tính đến những tác động (tiêu cực) mà nó có thể mang lại. Thứ nhất, chúng ta vốn có truyền thống mắc bệnh thành tích, khi báo cáo GDP hàng năm của các địa phương (tỉnh, thành phố) thường luôn cao hơn mức bình quân của cả nước – hiện tượng cho đến nay vẫn chưa hề chấm dứt. Thứ hai, việc điều chỉnh tăng GDP có nguy cơ gây mất cân đối lớn cho nền kinh tế, bởi no sẽ tạo ra dư địa lớn hơn cho chính phủ, giúp thúc đẩy hoạt động vay nợ và tăng cường đầu tư công (nợ công của Việt Nam hiện đang ở ngưỡng 58,4%, sau khi GDP được điều chỉnh tăng thì con số này sẽ giảm xuống 50%), trong khi vấn đề lớn nhất của Việt Nam hiện nay lại đang nằm ở chi tiêu ngân sách thường xuyên quá lớn cho một bộ máy cồng kềnh, khó tinh giản và hiệu quả chống tham nhũng thì cực thấp …

Sau cùng, các chỉ số phát triển như GDP sẽ không thể và không nên phụ thuộc vào ý chí của chính quyền bởi mục tiêu “chính trị hóa”, bởi khi ấy chúng sẽ chẳng còn nhiều ý nghĩa. Vì thế, giải pháp ở đây là chúng ta cần có một cơ quan thống kê quốc gia được trao tư cách độc lập, còn quốc hội thì cũng phải tự tăng cường năng lực làm luật và giám sát của mình, thay vì quyết định và công bố mức tăng GDP hàng năm cho cả nước.